Tin tức & cẩm nang
Trợ cấp thôi việc 2026: điều kiện, cách tính và ví dụ cho doanh nghiệp
Người viết Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc · Cập nhật
Trợ cấp thôi việc là khoản người sử dụng lao động phải trả khi hợp đồng lao động chấm dứt đúng luật cho người đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên: mỗi năm làm việc được một nửa tháng tiền lương, tính trên tiền lương bình quân 6 tháng liền kề trước khi thôi việc, theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Điểm nhiều doanh nghiệp tính sai là thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp phải trừ ra, nên người đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ thường chỉ còn rất ít hoặc không còn thời gian để tính. Bài viết dành cho chủ doanh nghiệp, phụ trách nhân sự và kế toán; nội dung cập nhật theo quy định có hiệu lực đến ngày 12/10/2026.
Trợ cấp thôi việc là gì, ai được hưởng?
Trợ cấp thôi việc là khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, nếu người đó đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên; mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương (khoản 1 Điều 46). Các trường hợp chấm dứt thường gặp được hưởng gồm:
- Hết hạn hợp đồng lao động, hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng.
- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng luật theo Điều 35, có báo trước đúng thời hạn.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng luật theo Điều 36, trừ trường hợp người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng.
Khoản này do doanh nghiệp tự chi từ quỹ của mình, khác với trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả.
Cách tính trợ cấp thôi việc năm 2026 như thế nào?
Trợ cấp thôi việc = thời gian làm việc để tính trợ cấp (năm) × 1/2 × tiền lương bình quân 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi thôi việc. Thời gian để tính là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (khoản 2 và khoản 3 Điều 46):
- Thời gian làm việc thực tế gồm cả thời gian thử việc, thời gian được cử đi học, nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản và các thời gian nghỉ có hưởng lương khác theo Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
- Làm tròn tháng lẻ: từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng tính là 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên tính là 01 năm làm việc.
- Tiền lương bình quân lấy theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ, gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo khoản 1 Điều 90.
Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có từ ngày 01/01/2009, nên với người vào làm sau mốc này và được đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục, phần thời gian còn lại để tính trợ cấp thôi việc thường rất ngắn.
Ví dụ tính trợ cấp thôi việc cho người làm việc từ trước năm 2009?
Một người lao động làm việc liên tục từ 01/07/2006 đến 30/06/2026, đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 01/01/2009, có tiền lương bình quân 6 tháng cuối là 12.000.000 đồng/tháng, nhận trợ cấp thôi việc 18.000.000 đồng. Cách tính:
- Tổng thời gian làm việc thực tế: 01/07/2006 – 30/06/2026 = 20 năm.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: 01/01/2009 – 30/06/2026 = 17 năm 6 tháng.
- Thời gian tính trợ cấp: 20 năm − 17 năm 6 tháng = 2 năm 6 tháng; 6 tháng lẻ làm tròn thành 1 năm, nên tính 3 năm.
- Trợ cấp thôi việc: 3 × 1/2 × 12.000.000 = 18.000.000 đồng.
Nếu cùng người này không có giai đoạn trước năm 2009 và được đóng bảo hiểm thất nghiệp suốt quá trình làm việc, thời gian tính trợ cấp bằng 0 và doanh nghiệp không phải trả trợ cấp thôi việc.
Người đã đóng bảo hiểm thất nghiệp có còn được trợ cấp thôi việc không?
Người lao động đã được đóng bảo hiểm thất nghiệp trong suốt thời gian làm việc thì không còn thời gian nào để tính trợ cấp thôi việc, vì toàn bộ thời gian đó bị trừ ra theo khoản 2 Điều 46; họ chỉ được tính trợ cấp cho những giai đoạn làm việc mà không thuộc diện đóng bảo hiểm thất nghiệp. Những giai đoạn hay bị bỏ sót:
- Thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc riêng, khi chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Thời gian làm việc trước ngày 01/01/2009.
- Thời gian doanh nghiệp lẽ ra phải đóng nhưng không đóng bảo hiểm thất nghiệp — trường hợp này doanh nghiệp vẫn phải tính vào trợ cấp thôi việc.
Ví dụ: người thử việc 2 tháng theo hợp đồng thử việc riêng, sau đó ký hợp đồng lao động và được đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ trong 4 năm, lương bình quân 6 tháng cuối 12.000.000 đồng. Phần chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp là 2 tháng, làm tròn thành 1/2 năm, nên trợ cấp thôi việc là 1/2 × 1/2 × 12.000.000 = 3.000.000 đồng.
Người lao động tự nghỉ việc có được trợ cấp thôi việc không?
Người lao động tự nghỉ việc vẫn được trợ cấp thôi việc nếu nghỉ đúng luật — đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 và báo trước đủ thời hạn — và đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Thời hạn báo trước theo khoản 1 Điều 35 là:
- Ít nhất 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn.
- Ít nhất 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.
- Ít nhất 03 ngày làm việc với hợp đồng xác định thời hạn dưới 12 tháng.
Nếu người lao động nghỉ ngang, không báo trước đủ thời hạn mà không thuộc trường hợp được nghỉ không cần báo trước, đó là đơn phương chấm dứt trái pháp luật: người lao động không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường nửa tháng tiền lương cộng tiền lương của những ngày không báo trước (Điều 40).
Trường hợp nào không được trợ cấp thôi việc?
Người lao động không được trợ cấp thôi việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, khi bị doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng vì tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng (điểm e khoản 1 Điều 36), hoặc khi hợp đồng chấm dứt vì những lý do không nằm trong các khoản được hưởng của Điều 34. Các trường hợp thường gặp:
- Bị xử lý kỷ luật sa thải (khoản 8 Điều 34).
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật (Điều 40).
- Làm việc chưa đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động.
- Toàn bộ thời gian làm việc đã được đóng bảo hiểm thất nghiệp hoặc đã được trả trợ cấp trước đó.
Người bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc do chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp (khoản 11 Điều 34) không nhận trợ cấp thôi việc mà nhận trợ cấp mất việc làm, với mức cao hơn.
Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp thế nào?
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm đều do doanh nghiệp trả, nhưng áp cho hai nhóm lý do chấm dứt khác nhau và mức khác nhau; trợ cấp thất nghiệp thì do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi, không do doanh nghiệp trả:
| Tiêu chí | Trợ cấp thôi việc | Trợ cấp mất việc làm | Trợ cấp thất nghiệp |
|---|---|---|---|
| Căn cứ | Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 | Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 | Pháp luật về việc làm, bảo hiểm thất nghiệp |
| Ai trả | Người sử dụng lao động | Người sử dụng lao động | Quỹ bảo hiểm thất nghiệp |
| Khi nào | Chấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9, 10 Điều 34 | Cho thôi việc do cơ cấu lại, lý do kinh tế, chia tách, sáp nhập (khoản 11 Điều 34) | Mất việc, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian và nộp hồ sơ |
| Mức | 1/2 tháng lương mỗi năm | 01 tháng lương mỗi năm, ít nhất 02 tháng lương | Theo mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp |
| Thời gian tính | Trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp | Trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp | Theo số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp |
Một người có thể vừa nhận trợ cấp thôi việc cho giai đoạn chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp, vừa nhận trợ cấp thất nghiệp cho giai đoạn đã đóng; hai khoản không loại trừ nhau.
Doanh nghiệp phải trả trợ cấp thôi việc trong bao lâu, chậm trả bị phạt bao nhiêu?
Doanh nghiệp phải thanh toán trợ cấp thôi việc cùng các khoản quyền lợi khác trong 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động; một số trường hợp đặc biệt được kéo dài nhưng không quá 30 ngày (khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019). Không trả hoặc trả không đủ bị phạt theo khoản 2 Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 10/09/2026 và thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP:
- 1–2 triệu đồng khi vi phạm với 1–10 người lao động.
- 2–5 triệu đồng với 11–50 người; 5–10 triệu đồng với 51–100 người.
- 10–15 triệu đồng với 101–300 người; 15–20 triệu đồng từ 301 người trở lên.
Đây là mức áp cho cá nhân; doanh nghiệp là tổ chức bị phạt gấp đôi theo khoản 1 Điều 7. Doanh nghiệp còn buộc phải trả đủ trợ cấp cộng tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt (điểm a khoản 4 Điều 18).
Nhân Kiệt tính và chi trợ cấp thôi việc cho khách hàng thế nào?
Nhân Kiệt — Công ty TNHH Cung Ứng Nhân Lực Nhân Kiệt, hoạt động từ năm 2009, giữ giấy phép cho thuê lại lao động số 15/2019/SHCM — ký hợp đồng lao động trực tiếp với người lao động, nên chịu trách nhiệm tính và chi đủ trợ cấp thôi việc, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và trả lại giấy tờ trong thời hạn 14 ngày làm việc khi hợp đồng chấm dứt.
Khi tính, Nhân Kiệt đối chiếu từng người theo ba nguồn: hợp đồng và phụ lục để lấy tiền lương bình quân 6 tháng, quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp để trừ đúng thời gian, và hồ sơ thử việc để không bỏ sót giai đoạn chưa đóng. Doanh nghiệp có thể giao toàn bộ phần này qua dịch vụ tính lương thuê ngoài, hoặc chuyển trách nhiệm người sử dụng lao động sang Nhân Kiệt qua dịch vụ hợp thức hóa lao động.
Xem thêm: Phép năm 2026: số ngày, thâm niên và tiền phép chưa nghỉ · Lương tối thiểu vùng 2026: mức từng vùng, theo giờ và dự kiến 2027
Nguồn tham khảo
- Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14) — Điều 34 (các trường hợp chấm dứt hợp đồng), Điều 35, 36 (đơn phương chấm dứt), Điều 40 (chấm dứt trái pháp luật), Điều 46 (trợ cấp thôi việc), Điều 47 (trợ cấp mất việc làm), Điều 48 (thời hạn thanh toán), Điều 90 (tiền lương); hiệu lực 01/01/2021
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động — Điều 8 (thời gian làm việc, tiền lương tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm)
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP — khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 18 (không trả, trả không đủ trợ cấp thôi việc), khoản 1 Điều 7 (tổ chức bị phạt gấp đôi); hiệu lực 10/09/2026
Bài viết tổng hợp quy định để doanh nghiệp định hướng; tình huống cụ thể cần được tư vấn riêng.
Liên hệ tư vấn
Doanh nghiệp cần tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc rà lại quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động trước khi chấm dứt hợp đồng có thể liên hệ:
- Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc
- Điện thoại: 0908 636 108 — [email protected]
- Tổng đài: 028 3505 4224
- Trụ sở: Phòng 202, Tòa nhà 57, 57 Lê Thị Hồng Gấm, P. Bến Thành, TP.HCM
Gọi 0908 636 108 (Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc) hoặc xem dịch vụ hợp thức hóa lao động, tính lương thuê ngoài, cung ứng lao động.