NHÂN KIỆTSince 2009

Tin tức & cẩm nang

Trợ cấp thôi việc 2026: điều kiện, cách tính và ví dụ cho doanh nghiệp

Trợ cấp thôi việc là khoản người sử dụng lao động phải trả khi hợp đồng lao động chấm dứt đúng luật cho người đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên: mỗi năm làm việc được một nửa tháng tiền lương, tính trên tiền lương bình quân 6 tháng liền kề trước khi thôi việc, theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Điểm nhiều doanh nghiệp tính sai là thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp phải trừ ra, nên người đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ thường chỉ còn rất ít hoặc không còn thời gian để tính. Bài viết dành cho chủ doanh nghiệp, phụ trách nhân sự và kế toán; nội dung cập nhật theo quy định có hiệu lực đến ngày 12/10/2026.

Trợ cấp thôi việc là gì, ai được hưởng?

Trợ cấp thôi việc là khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, nếu người đó đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên; mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương (khoản 1 Điều 46). Các trường hợp chấm dứt thường gặp được hưởng gồm:

Khoản này do doanh nghiệp tự chi từ quỹ của mình, khác với trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả.

Cách tính trợ cấp thôi việc năm 2026 như thế nào?

Trợ cấp thôi việc = thời gian làm việc để tính trợ cấp (năm) × 1/2 × tiền lương bình quân 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi thôi việc. Thời gian để tính là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (khoản 2 và khoản 3 Điều 46):

Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có từ ngày 01/01/2009, nên với người vào làm sau mốc này và được đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục, phần thời gian còn lại để tính trợ cấp thôi việc thường rất ngắn.

Ví dụ tính trợ cấp thôi việc cho người làm việc từ trước năm 2009?

Một người lao động làm việc liên tục từ 01/07/2006 đến 30/06/2026, đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 01/01/2009, có tiền lương bình quân 6 tháng cuối là 12.000.000 đồng/tháng, nhận trợ cấp thôi việc 18.000.000 đồng. Cách tính:

Nếu cùng người này không có giai đoạn trước năm 2009 và được đóng bảo hiểm thất nghiệp suốt quá trình làm việc, thời gian tính trợ cấp bằng 0 và doanh nghiệp không phải trả trợ cấp thôi việc.

Người đã đóng bảo hiểm thất nghiệp có còn được trợ cấp thôi việc không?

Người lao động đã được đóng bảo hiểm thất nghiệp trong suốt thời gian làm việc thì không còn thời gian nào để tính trợ cấp thôi việc, vì toàn bộ thời gian đó bị trừ ra theo khoản 2 Điều 46; họ chỉ được tính trợ cấp cho những giai đoạn làm việc mà không thuộc diện đóng bảo hiểm thất nghiệp. Những giai đoạn hay bị bỏ sót:

Ví dụ: người thử việc 2 tháng theo hợp đồng thử việc riêng, sau đó ký hợp đồng lao động và được đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ trong 4 năm, lương bình quân 6 tháng cuối 12.000.000 đồng. Phần chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp là 2 tháng, làm tròn thành 1/2 năm, nên trợ cấp thôi việc là 1/2 × 1/2 × 12.000.000 = 3.000.000 đồng.

Người lao động tự nghỉ việc có được trợ cấp thôi việc không?

Người lao động tự nghỉ việc vẫn được trợ cấp thôi việc nếu nghỉ đúng luật — đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 và báo trước đủ thời hạn — và đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Thời hạn báo trước theo khoản 1 Điều 35 là:

Nếu người lao động nghỉ ngang, không báo trước đủ thời hạn mà không thuộc trường hợp được nghỉ không cần báo trước, đó là đơn phương chấm dứt trái pháp luật: người lao động không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường nửa tháng tiền lương cộng tiền lương của những ngày không báo trước (Điều 40).

Trường hợp nào không được trợ cấp thôi việc?

Người lao động không được trợ cấp thôi việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, khi bị doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng vì tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng (điểm e khoản 1 Điều 36), hoặc khi hợp đồng chấm dứt vì những lý do không nằm trong các khoản được hưởng của Điều 34. Các trường hợp thường gặp:

Người bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc do chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp (khoản 11 Điều 34) không nhận trợ cấp thôi việc mà nhận trợ cấp mất việc làm, với mức cao hơn.

Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp thế nào?

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm đều do doanh nghiệp trả, nhưng áp cho hai nhóm lý do chấm dứt khác nhau và mức khác nhau; trợ cấp thất nghiệp thì do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi, không do doanh nghiệp trả:

Tiêu chíTrợ cấp thôi việcTrợ cấp mất việc làmTrợ cấp thất nghiệp
Căn cứĐiều 46 Bộ luật Lao động 2019Điều 47 Bộ luật Lao động 2019Pháp luật về việc làm, bảo hiểm thất nghiệp
Ai trảNgười sử dụng lao độngNgười sử dụng lao độngQuỹ bảo hiểm thất nghiệp
Khi nàoChấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9, 10 Điều 34Cho thôi việc do cơ cấu lại, lý do kinh tế, chia tách, sáp nhập (khoản 11 Điều 34)Mất việc, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian và nộp hồ sơ
Mức1/2 tháng lương mỗi năm01 tháng lương mỗi năm, ít nhất 02 tháng lươngTheo mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp
Thời gian tínhTrừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệpTrừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệpTheo số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp

Một người có thể vừa nhận trợ cấp thôi việc cho giai đoạn chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp, vừa nhận trợ cấp thất nghiệp cho giai đoạn đã đóng; hai khoản không loại trừ nhau.

Doanh nghiệp phải trả trợ cấp thôi việc trong bao lâu, chậm trả bị phạt bao nhiêu?

Doanh nghiệp phải thanh toán trợ cấp thôi việc cùng các khoản quyền lợi khác trong 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động; một số trường hợp đặc biệt được kéo dài nhưng không quá 30 ngày (khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019). Không trả hoặc trả không đủ bị phạt theo khoản 2 Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 10/09/2026 và thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP:

Đây là mức áp cho cá nhân; doanh nghiệp là tổ chức bị phạt gấp đôi theo khoản 1 Điều 7. Doanh nghiệp còn buộc phải trả đủ trợ cấp cộng tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt (điểm a khoản 4 Điều 18).

Nhân Kiệt tính và chi trợ cấp thôi việc cho khách hàng thế nào?

Nhân Kiệt — Công ty TNHH Cung Ứng Nhân Lực Nhân Kiệt, hoạt động từ năm 2009, giữ giấy phép cho thuê lại lao động số 15/2019/SHCM — ký hợp đồng lao động trực tiếp với người lao động, nên chịu trách nhiệm tính và chi đủ trợ cấp thôi việc, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và trả lại giấy tờ trong thời hạn 14 ngày làm việc khi hợp đồng chấm dứt.

Khi tính, Nhân Kiệt đối chiếu từng người theo ba nguồn: hợp đồng và phụ lục để lấy tiền lương bình quân 6 tháng, quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp để trừ đúng thời gian, và hồ sơ thử việc để không bỏ sót giai đoạn chưa đóng. Doanh nghiệp có thể giao toàn bộ phần này qua dịch vụ tính lương thuê ngoài, hoặc chuyển trách nhiệm người sử dụng lao động sang Nhân Kiệt qua dịch vụ hợp thức hóa lao động.

Xem thêm: Phép năm 2026: số ngày, thâm niên và tiền phép chưa nghỉ · Lương tối thiểu vùng 2026: mức từng vùng, theo giờ và dự kiến 2027

Nguồn tham khảo

Bài viết tổng hợp quy định để doanh nghiệp định hướng; tình huống cụ thể cần được tư vấn riêng.

Liên hệ tư vấn

Doanh nghiệp cần tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc rà lại quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động trước khi chấm dứt hợp đồng có thể liên hệ:

Cần tư vấn cụ thể cho doanh nghiệp của bạn?
Gọi 0908 636 108 (Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc) hoặc xem dịch vụ hợp thức hóa lao động, tính lương thuê ngoài, cung ứng lao động.

← Các bài viết khác

Gọi 0908 636 108 Nhắn Zalo