Tin tức & cẩm nang
Phạt và truy thu BHXH 2026 theo Nghị định 283
Người viết Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc · Cập nhật
Từ 10 tháng 9 năm 2026, Nghị định 283/2026/NĐ-CP thay Nghị định 12/2022/NĐ-CP và trở thành căn cứ xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm xã hội. Với doanh nghiệp, chậm đóng BHXH bắt buộc bị phạt 12–15% số tiền chậm đóng, trốn đóng bị phạt 18–20% số tiền trốn đóng, cả hai tối đa 75 triệu đồng với cá nhân và gấp đôi thành 150 triệu đồng với tổ chức; ngoài tiền phạt còn phải đóng đủ số tiền còn thiếu và nộp thêm 0,03%/ngày vào quỹ.
Bài viết dành cho giám đốc, phụ trách nhân sự và kế toán cần biết chính xác mức phạt, phân biệt chậm đóng với trốn đóng, hiểu đúng khoản truy thu và cách khắc phục; nội dung cập nhật theo quy định có hiệu lực tới tháng 9/2026.
Nghị định 283/2026 có hiệu lực từ khi nào và thay nghị định nào?
Nghị định 283/2026/NĐ-CP được ký ngày 15/07/2026, có hiệu lực từ 10/09/2026 và làm Nghị định 12/2022/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ cùng ngày, theo Điều 66. Nghị định gồm 6 chương, 68 điều, bao trùm xử phạt về lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Một điểm chuyển tiếp quan trọng: hành vi xảy ra trước ngày 10/09/2026 nhưng vẫn đang diễn ra khi nghị định có hiệu lực thì áp dụng Nghị định 283/2026 để xử lý (Điều 67 khoản 2). Nghĩa là tình trạng chưa đóng hay đóng thiếu kéo dài từ trước không được xem là đã khép lại theo văn bản cũ. Số phạt trích từ Nghị định 12/2022 nay đã lỗi thời.
Truy thu BHXH là gì, doanh nghiệp phải nộp thêm những khoản nào?
Truy thu, hay truy đóng, BHXH là biện pháp khắc phục hậu quả chứ không phải tiền phạt: doanh nghiệp bị buộc đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc còn thiếu, cộng thêm 0,03%/ngày tính trên số tiền đó và số ngày chậm hoặc trốn đóng, nộp vào quỹ BHXH theo Điều 43 khoản 4 và Điều 44 khoản 3 Nghị định 283/2026. Khoản này tách hẳn với tiền phạt theo phần trăm và không được cộng gộp thành một con số.
Khoản 0,03%/ngày tính theo số ngày chậm hoặc trốn đóng, kể từ sau ngày đóng chậm nhất theo khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, nên khoản chưa đóng càng để lâu càng lớn. Với lao động không trọn thời gian thuộc diện đóng — hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên và tiền lương tháng từ mức tham chiếu trở lên — nghĩa vụ đóng phát sinh từ 01/07/2025, ngày Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực.
Cần phân biệt truy đóng với thời hiệu xử phạt hành chính là 01 năm đối với vi phạm về lao động, bảo hiểm xã hội (Điều 3 khoản 4 Nghị định 283/2026). Thời hiệu một năm chỉ giới hạn việc ra quyết định phạt tiền, không xóa nghĩa vụ truy đóng đủ và khoản 0,03%/ngày. Đừng hiểu nhầm rằng quá một năm là hết bị truy thu.
Ai thuộc diện đóng và chi phí đóng một người mỗi tháng là bao nhiêu được trình bày trong bài BHXH bắt buộc part-time 2026, kể cả trường hợp thử việc có phải đóng BHXH không.
Chậm đóng và trốn đóng BHXH khác nhau thế nào, phạt bao nhiêu?
Chậm đóng và trốn đóng là hai hành vi có định nghĩa riêng trong Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và hai khung phạt riêng trong Nghị định 283/2026. Chậm đóng bị phạt 12–15% tổng số tiền chậm đóng (Điều 43 khoản 3); trốn đóng bị phạt 18–20% tổng số tiền trốn đóng (Điều 44 khoản 2); cả hai tối đa 75 triệu đồng với cá nhân, tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm. Riêng với chậm đóng theo tỷ lệ, nếu tổng số tiền chậm đóng tính tại thời điểm lập biên bản dưới 400.000 đồng thì chỉ phạt cảnh cáo (Điều 43 khoản 1); còn mức phạt theo số người khi không đăng ký, đăng ký thiếu không có ngưỡng cảnh cáo này.
| Tiêu chí | Chậm đóng BHXH | Trốn đóng BHXH |
|---|---|---|
| Căn cứ định nghĩa | Điều 38 Luật BHXH 2024 | Điều 39 Luật BHXH 2024 |
| Dấu hiệu điển hình | Chưa đóng hoặc đóng chưa đủ theo hồ sơ đã đăng ký, sau ngày đóng chậm nhất | Quá 60 ngày đã bị đôn đốc vẫn không đóng; đăng ký lương thấp hơn quy định |
| Phạt phần trăm | 12–15% số tiền chậm đóng (Điều 43 k3) | 18–20% số tiền trốn đóng (Điều 44 k2) |
| Trần phạt | 75 triệu (cá nhân) / 150 triệu (tổ chức) | 75 triệu (cá nhân) / 150 triệu (tổ chức) |
| Khắc phục | Đóng đủ + 0,03%/ngày vào quỹ (Điều 43 k4) | Đóng đủ + 0,03%/ngày vào quỹ (Điều 44 k3) |
Ranh giới thực tế nằm ở hai chỗ: quá 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất (khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024) mà đã bị cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng vẫn không đóng, hoặc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn mức quy định, thì chuyển từ chậm đóng sang trốn đóng. Việc xác định một người có phải lao động thuộc diện đóng bắt buộc hay không được phân tích trong bài hợp đồng cộng tác viên, khoán việc.
Không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người đóng BHXH bị phạt bao nhiêu?
Hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người tham gia BHXH bắt buộc bị phạt theo thang bậc dựa trên số người lao động vi phạm. Trong 60 ngày, hoặc quá 60 ngày nhưng không bị coi là trốn đóng, áp khung chậm đóng từ 5 đến 75 triệu đồng với cá nhân (Điều 43 khoản 2); quá 60 ngày và bị coi là trốn đóng thì áp khung từ 6 đến 75 triệu đồng (Điều 44 khoản 1). Tổ chức gấp đôi các mức này.
| Số người lao động vi phạm | Chậm đóng — Điều 43 k2 | Trốn đóng — Điều 44 k1 |
|---|---|---|
| Dưới 10 người | 5 – 10 triệu | 6 – 12 triệu |
| 10 đến dưới 50 người | 10 – 15 triệu | 12 – 20 triệu |
| 50 đến dưới 100 người | 15 – 20 triệu | 20 – 30 triệu |
| 100 đến dưới 300 người | 20 – 30 triệu | 30 – 40 triệu |
| 300 đến dưới 500 người | 30 – 40 triệu | 40 – 50 triệu |
| 500 đến dưới 700 người | 40 – 50 triệu | 50 – 60 triệu |
| 700 đến dưới 1.000 người | 50 – 60 triệu | 60 – 70 triệu |
| Từ 1.000 người trở lên | 60 – 75 triệu | 70 – 75 triệu |
Đây là mức phạt với cá nhân; doanh nghiệp là tổ chức nên nhân đôi. Khung theo số người ở đây không có ngưỡng phạt cảnh cáo — ngưỡng dưới 400.000 đồng chỉ áp cho hành vi chậm đóng theo tỷ lệ ở Điều 43 khoản 3.
Ký cam kết không đóng BHXH có hợp pháp không?
Không. Với người thuộc diện đóng bắt buộc, việc tham gia bảo hiểm xã hội là bắt buộc theo Điều 168 khoản 1 Bộ luật Lao động 2019; thỏa thuận không tham gia không làm mất nghĩa vụ đó, và nếu vì thế mà doanh nghiệp không đăng ký hoặc không đóng quá thời hạn tại Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì đó là trốn đóng — hành vi bị nghiêm cấm tại khoản 1 Điều 9 của luật này. Bản thân việc thỏa thuận không tham gia bị phạt tiền 500.000–1.000.000 đồng theo Điều 48 khoản 2 Nghị định 283/2026, nhưng đây là mức cá nhân chạm tới người lao động ký thỏa thuận; nghĩa vụ nặng hơn của doanh nghiệp là vẫn phải đóng đủ, nộp 0,03%/ngày và có thể bị phạt chậm hoặc trốn đóng theo Điều 43, 44. Chỉ người không thuộc diện bắt buộc mới được nhận một khoản chi trả thêm cùng kỳ trả lương thay cho việc đóng, theo Điều 168 khoản 3 Bộ luật Lao động 2019.
Nói cách khác, giấy cam kết có chữ ký người lao động không bảo vệ doanh nghiệp. Ngược lại, khi thanh tra, đó là bằng chứng cho thấy hai bên đã thỏa thuận sai và trở thành căn cứ để phạt cùng với truy đóng. Điều 168 khoản 1 Bộ luật Lao động 2019 đã quy định người sử dụng lao động và người lao động thuộc diện bắt buộc phải tham gia BHXH; khoản chi trả thêm ở khoản 3 chỉ dành cho người ngoài diện.
Doanh nghiệp có bị phạt gấp đôi mức cá nhân không?
Có. Mọi mức tiền ghi trong các chương xử phạt của Nghị định 283/2026 là mức phạt với cá nhân; mức phạt với tổ chức bằng 02 lần mức phạt với cá nhân, theo Điều 7 khoản 1. Các điều về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp — Điều 43, 44, 45, 46 — không nằm trong danh sách ngoại lệ, nên với doanh nghiệp, tỷ lệ phạt giữ nguyên (12–15% với chậm đóng, 18–20% với trốn đóng) và mức phạt theo bậc nhân đôi, còn trần tiền phạt tăng từ 75 triệu lên 150 triệu đồng.
Căn cứ nhân đôi đúng là Điều 7 khoản 1, không phải một điều khác thường bị dẫn nhầm. Danh mục tổ chức tại Điều 7 khoản 2 gồm cả doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam, chi nhánh và văn phòng đại diện.
Ví dụ minh họa: một doanh nghiệp trốn đóng bị phạt 18–20% số tiền trốn đóng, và vì là tổ chức nên trần phạt là 150 triệu đồng. Cũng vì trần cá nhân là 75 triệu và tổ chức là 150 triệu, không có mốc phạt tròn 100 triệu đồng riêng cho hành vi chậm hoặc trốn đóng — con số chỉ đúng khi gắn với đúng điều, khoản và tư cách tổ chức.
Đang dùng lao động chưa đóng BHXH, khắc phục thế nào cho đúng?
Doanh nghiệp bị buộc lập hồ sơ đăng ký đủ số người tham gia BHXH bắt buộc, đóng đủ số tiền chậm hoặc trốn đóng và nộp 0,03%/ngày vào quỹ, theo Điều 43 khoản 4 và Điều 44 khoản 3 Nghị định 283/2026. Chủ động khắc phục trước khi bị lập biên bản là hướng đúng; tái phạm hành vi trốn đóng có thể bị chuyển hồ sơ để cơ quan có thẩm quyền xem xét khi có dấu hiệu tội phạm (Điều 4 khoản 2 Nghị định 283/2026).
Trình tự khắc phục nên đi theo các bước:
- Rà soát danh sách người lao động thực tế để xác định ai còn thiếu hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc.
- Lập hồ sơ đăng ký hoặc đăng ký bổ sung đầy đủ số người theo quy định.
- Đóng đủ số tiền còn thiếu và nộp khoản 0,03%/ngày vào quỹ.
- Rà soát tiền lương làm căn cứ đóng để không rơi vào trường hợp đăng ký thấp hơn quy định.
Về trách nhiệm hình sự, cần nói thận trọng: hành vi trốn đóng có tổ chức, gian dối, khi đủ yếu tố cấu thành thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết không nêu mức án cụ thể; điều cần nhớ là khắc phục sớm và đúng luôn ít tốn kém hơn để tình trạng kéo dài.
Nhân Kiệt đưa người lao động vào đúng luật cho doanh nghiệp thế nào?
Rủi ro truy thu, phạt 12–15% hoặc 18–20% và khoản 0,03%/ngày đều bắt nguồn từ việc người lao động chưa được vào sổ bảo hiểm đúng hạn — đúng phần Nhân Kiệt gánh thay khi đứng tên người sử dụng lao động. Là bên ký hợp đồng lao động trực tiếp với từng người, kể cả lao động part-time chạy ca ngắn, Nhân Kiệt lo báo tăng, giảm BHXH theo biến động nhân sự, đóng đủ BHXH, BHYT, BHTN và BHTNLĐ-BNN, đăng ký mã số thuế, khai thuế thu nhập cá nhân, nộp báo cáo lao động và chịu trách nhiệm pháp lý khi thanh tra hay tranh chấp.
Khi mọi người thuộc diện bắt buộc đều được vào sổ và đóng đúng hạn, doanh nghiệp không còn khoản chưa đóng nào để bị truy đóng hay lập biên bản phạt.
Công ty TNHH Cung Ứng Nhân Lực Nhân Kiệt (MST 0308022768) thành lập tháng 4/2009, nay là năm thứ 17, vận hành theo giấy phép cho thuê lại lao động số 15/2019/SHCM (cấp lần đầu số 029/LĐTBXH năm 2015), đạt ISO 9001:2015 và ISO/IEC 27001:2022, với hơn 40.000 người lao động và hơn 500 khách hàng tại 34 tỉnh thành. Cách chuyển người lao động sang Nhân Kiệt đứng tên người sử dụng lao động được trình bày tại trang dịch vụ hợp thức hóa lao động.
Nguồn tham khảo
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP — Điều 3, 7, 43, 44, 48, 66, 67; ký 15/07/2026, hiệu lực 10/09/2026, thay Nghị định 12/2022/NĐ-CP
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 — Điều 9, 38, 39; hiệu lực 01/07/2025
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 — Điều 168 khoản 1 và khoản 3; hiệu lực 01/01/2021
Bài viết tổng hợp quy định để doanh nghiệp định hướng; tình huống cụ thể cần được tư vấn riêng.
Liên hệ tư vấn
Doanh nghiệp cần đưa người lao động vào đúng luật, xử lý truy thu hoặc rà soát rủi ro phạt BHXH có thể liên hệ:
- Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc
- Điện thoại: 0908 636 108 — [email protected]
- Tổng đài: 028 3505 4224
- Trụ sở: Phòng 202, Tòa nhà 57, 57 Lê Thị Hồng Gấm, P. Bến Thành, TP.HCM
Gọi 0908 636 108 (Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc) hoặc xem dịch vụ hợp thức hóa lao động, tính lương thuê ngoài, cung ứng lao động.