Tin tức & cẩm nang
Chi phí sử dụng lao động tại Việt Nam có trần: Vì sao tuyển nhân sự cấp cao tốn ít hơn trên mỗi đồng lương (2026)
Người viết Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc · Cập nhật
Thuê một người lao động Việt Nam trong năm 2026 tốn khoản tiền lương gộp cộng thêm 21,5% các khoản đóng bắt buộc của người sử dụng lao động — 23,5% nếu tính cả 2% kinh phí công đoàn. Nhưng các khoản đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế dừng ở mức trần 50.600.000 đồng/tháng (từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, Nghị định 161/2026/NĐ-CP), nên phần cộng thêm của người sử dụng lao động giảm còn khoảng 12,4% ở mức lương 100 triệu đồng.
Điều này quan trọng khi lập ngân sách. Tỷ lệ phần trăm cộng thêm mà bạn phải trả không cố định — nó nhỏ dần khi lương tăng, bởi căn cứ tính đóng bị khống chế bằng mức trần. Vì vậy, một nhân sự cấp cao hoặc làm việc từ xa sẽ tốn ít hơn trên mỗi đồng lương so với một nhân sự cấp thấp.
Ba tầng chi phí khi thuê một lao động Việt Nam là gì?
Chi phí thực tế hằng tháng để thuê một người tại Việt Nam gồm ba phần:
- Tiền lương gộp — con số ghi trên hợp đồng lao động, trước mọi khoản khấu trừ.
- Các khoản đóng bắt buộc của người sử dụng lao động — 21,5% trên tiền lương làm căn cứ đóng (bảo hiểm xã hội 17%, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 0,5% theo Nghị định 58/2020/NĐ-CP, bảo hiểm y tế 3%, bảo hiểm thất nghiệp 1%), cộng thêm 2% kinh phí công đoàn theo Luật Công đoàn 2024 (số 50/2024/QH15). Tổng phần cộng thêm của người sử dụng lao động là 23,5%.
- Phí dịch vụ, chỉ phát sinh nếu bạn dùng một đơn vị thuê ngoài như Employer of Record hoặc dịch vụ tính lương.
Hai tầng đầu là những gì pháp luật buộc mọi người sử dụng lao động phải làm. Tầng thứ ba là tùy chọn và phụ thuộc vào cách bạn cấu trúc việc thuê. Nếu thuê trực tiếp qua pháp nhân Việt Nam của chính bạn, bạn chỉ trả tầng một và tầng hai. Trang Employer of Record của chúng tôi trình bày đầy đủ tầng phí dịch vụ dành cho các doanh nghiệp chưa có pháp nhân tại Việt Nam.
Người sử dụng lao động đóng bao nhiêu so với người lao động?
Cả người sử dụng lao động và người lao động đều đóng bảo hiểm bắt buộc, trên cùng một mức lương làm căn cứ nhưng với tỷ lệ khác nhau.
- Người sử dụng lao động đóng 21,5% (bảo hiểm xã hội 17%, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 0,5%, bảo hiểm y tế 3%, bảo hiểm thất nghiệp 1%), cộng thêm 2% kinh phí công đoàn bắt buộc — tổng phần cộng thêm là 23,5% trên tiền lương gộp.
- Người lao động đóng 10,5%, được khấu trừ từ lương gộp (bảo hiểm xã hội 8%, bảo hiểm y tế 1,5%, bảo hiểm thất nghiệp 1%).
2% kinh phí công đoàn là khoản người sử dụng lao động nộp vào quỹ công đoàn. Khoản này bắt buộc kể cả khi tại nơi làm việc chưa thành lập công đoàn cơ sở, theo Luật Công đoàn 2024 (số 50/2024/QH15). Vì được tính trên cùng mức lương làm căn cứ như bảo hiểm xã hội nên khoản này cũng chịu chung mức trần. Đoàn phí công đoàn 0,5% là khoản riêng: chỉ do người lao động là đoàn viên đóng, tối đa 253.000 đồng/tháng (Quyết định 61/QĐ-TLĐ, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025), và không được giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân.
Trần đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là bao nhiêu?
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) được khống chế ở mức 50.600.000 đồng/tháng kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Con số này bằng 20 lần mức tham chiếu 2.530.000 đồng. Trước ngày đó, mức trần là 46.800.000 đồng.
Vượt trần, các khoản đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ngừng tăng. Nếu một người lao động có lương 100 triệu đồng, cả người sử dụng lao động lẫn người lao động vẫn chỉ đóng BHXH và BHYT trên 50.600.000 đồng đầu tiên. 2% kinh phí công đoàn theo cùng một căn cứ nên cũng ngừng tăng tại điểm đó. Đây là lý do tỷ lệ phần trăm cộng thêm của người sử dụng lao động giảm khi lương tăng: một phần lương ngày càng lớn nằm trên trần và không phát sinh thêm khoản đóng nào.
Bảo hiểm thất nghiệp có dùng cùng mức trần không?
Không — bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có mức trần khác, được ấn định theo vùng chứ không theo mức tham chiếu. Nó bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng áp dụng (Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định các mức lương tối thiểu, hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026).
- Vùng I: 106.200.000 đồng/tháng
- Vùng II: 94.600.000 đồng/tháng
- Vùng III: 82.800.000 đồng/tháng
- Vùng IV: 74.000.000 đồng/tháng
Áp một mức trần chung cho cả ba quỹ sẽ cho ra con số sai lệch; vì trần BHTN cao hơn trần BHXH và BHYT nên bảo hiểm thất nghiệp vẫn tiếp tục tăng sau khi hai quỹ kia đã ngừng, cho tới giới hạn của vùng. Một con số chi phí chính xác phải áp riêng từng mức trần.
Vì sao 23,5% trở thành 12,4% ở mức 100 triệu đồng?
Dưới đây là tác động qua các mức lương, tính cho Vùng I, không có người phụ thuộc, kỳ lương từ ngày 1 tháng 7 năm 2026. Mỗi con số là tổng chi phí hằng tháng mà người sử dụng lao động phải trả (lương gộp cộng các khoản đóng bắt buộc và kinh phí công đoàn):
- Lương gộp 10.000.000 đồng → tổng 12.350.000 đồng (cộng thêm 23,5%)
- Lương gộp 20.000.000 đồng → tổng 24.700.000 đồng (cộng thêm 23,5%)
- Lương gộp 30.000.000 đồng → tổng 37.050.000 đồng (cộng thêm 23,5%)
- Lương gộp 50.000.000 đồng → tổng 61.750.000 đồng (cộng thêm 23,5%)
- Lương gộp 100.000.000 đồng → tổng 112.385.000 đồng (cộng thêm 12,4%)
Đến 50 triệu đồng, toàn bộ lương vẫn nằm dưới trần BHXH và BHYT nên người sử dụng lao động đóng đủ 23,5% trên toàn bộ. Ở mức 100 triệu đồng, khoảng một nửa lương nằm trên trần, nên BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn ngừng tăng, chỉ còn bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục. Tỷ lệ cộng thêm bình quân rơi về 12,4%. Một công cụ tính chỉ đơn thuần nhân lương với 21,5% sẽ phóng đại chi phí thực ở mức này. Để tự tính cho bất kỳ mức lương, vùng và số người phụ thuộc nào, hãy dùng công cụ tính chi phí lao động Việt Nam miễn phí của chúng tôi.
Điều này có ý nghĩa gì khi lập ngân sách cho nhân sự cấp cao hoặc làm việc từ xa?
Với một chuyên gia cấp cao hay một kỹ sư làm việc từ xa có lương cao hơn hẳn mức trần, chi phí biên của mỗi đồng lương tăng thêm thấp hơn so với tỷ lệ danh nghĩa gợi ý, bởi những khoản đóng lớn nhất đã chạm trần. Lập ngân sách một nhân sự cấp cao theo mức phẳng 23,5% sẽ dự trù thừa; lập ngân sách một nhân sự cấp thấp theo 12,4% sẽ dự trù thiếu. Tỷ lệ cộng thêm đúng nằm đâu đó giữa hai con số và phụ thuộc vào việc lương rơi vào đâu so với từng mức trần.
Có một ngoại lệ cần nói rõ: người lao động nước ngoài không đóng bảo hiểm thất nghiệp, nên phần cộng thêm của người sử dụng lao động là 22,5% thay vì 23,5% (phần 1% bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động không áp dụng).
Đây là vấn đề tuân thủ, không phải một khoản tiết kiệm để tính toán. Các mức trần do pháp luật quy định và áp dụng như nhau cho mọi người sử dụng lao động tuân thủ; mục tiêu là lập ngân sách đúng con số thực, chứ không phải giảm nghĩa vụ.
Hỏi & Đáp
Tôi có phải đóng 2% kinh phí công đoàn nếu nơi làm việc chưa có công đoàn không?
Có. 2% kinh phí công đoàn là bắt buộc đối với người sử dụng lao động theo Luật Công đoàn 2024 (số 50/2024/QH15), bất kể đã thành lập công đoàn cơ sở hay chưa. Khoản này được tính trên cùng mức lương làm căn cứ như bảo hiểm xã hội nên cũng dừng ở trần 50.600.000 đồng/tháng. Khoản đoàn phí 0,5% riêng biệt chỉ áp dụng với người lao động là đoàn viên.
Phần cộng thêm của người sử dụng lao động có luôn là 23,5% không?
Không. 23,5% là tỷ lệ khi toàn bộ lương còn dưới trần đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là 50.600.000 đồng/tháng. Vượt trần, các khoản đóng BHXH, BHYT và quỹ công đoàn ngừng tăng, nên tỷ lệ cộng thêm thực tế giảm — còn khoảng 12,4% ở mức lương gộp 100 triệu đồng tại Vùng I. Với người lao động nước ngoài, vốn được miễn bảo hiểm thất nghiệp, phần cộng thêm là 22,5%.
Người lao động bán thời gian có thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
Một người lao động bán thời gian thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: hợp đồng lao động từ đủ một tháng trở lên, và tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức tham chiếu (Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, và Nghị định 158/2025/NĐ-CP). Ở mức tham chiếu 2.530.000 đồng, chi phí bảo hiểm là 809.600 đồng/người/tháng — người sử dụng lao động 543.950 đồng (21,5%) và người lao động 265.650 đồng (10,5%); cộng thêm 2% kinh phí công đoàn là 50.600 đồng làm phần của người sử dụng lao động thành 594.550 đồng và tổng cộng là 860.200 đồng.
Tôi có thể xem đầy đủ các tỷ lệ đóng và biểu phí dịch vụ ở đâu?
Trang dịch vụ tính lương thuê ngoài trình bày việc tính lương, khai thuế và bảo hiểm hằng tháng. Trang Employer of Record mô tả mô hình và phí dịch vụ cho các doanh nghiệp chưa có pháp nhân tại Việt Nam, còn trang hợp thức hóa lao động đề cập việc chuyển người lao động hiện hữu sang hợp đồng tuân thủ. Để tính một con số cụ thể, hãy dùng công cụ tính chi phí lao động Việt Nam.
Gọi 0908 636 108 (Nguyễn Quốc Trung — Phó Tổng Giám đốc) hoặc xem dịch vụ hợp thức hóa lao động, tính lương thuê ngoài, cung ứng lao động.